Bảo hiểm xã hội quyền lợi của lao động giúp việc gia đình

Cũng như các nghành khác nghề Giúp việc gia đình đang trở thành một nghề không thể thiếu và ngày càng phát triển trong xã hội. Pháp luật Việt Nam đã tạo một hành lang pháp lý để bảo vệ quyền hưởng Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình. Trong quá trình hoàn thiện bổ sung tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vẫn còn một số khó khăn làm hạn chế quyền hưởng Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình. Vì vậy, việc hoàn thiện, bổ sung các quy định của pháp luật về vấn đề này và tìm ra các giải pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động là rất cần thiết.

Nghề Giúp việc cần được hỗ trợ Bảo hiểm xã hội

Quyền được Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình
Tại Hiến pháp 2013, lần đầu tiên, chế định quyền con người, quyền công dân được ghi nhận cụ thể và được hiến định. Điều này thể hiện sự thay đổi về tư duy pháp lý và khẳng định những giá trị cốt lõi nhất của Hiến pháp. Quyền con người, quyền công dân được xem là “nội dung cơ bản nhất của mỗi Hiến pháp, nội dung quan trọng đến mức nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thì cũng không thể có Hiến pháp”. Trong đó, quyền hưởng Bảo hiểm xã hội  nói riêng và quyền được bảo đảm An sinh xã hội nói chung được Nhà nước tôn trọng, ghi nhận và thực hiện thông qua Hiến pháp. Bộ luật Lao động đã chính thức ghi nhận quyền được Bảo hiểm xã hội của người giúp việc gia đình làm cơ sở pháp lý để đối tượng này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình cũng quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc, thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội để người lao động tự lo bảo hiểm. Quy định này trong Nghị định đã làm rõ thêm mức chi trả và thời hạn trả khoản tiền để người lao động tự lo Bảo hiểm xã hội. Theo đó, cùng với kỳ trả lương thì người sử dụng lao động cùng lúc phải trả thêm khoản tiền để lao động là người giúp việc gia đình tự đóng Bảo hiểm xã hội và khoản tiền này tương đương với mức đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Những khó khăn trong việc thực hiện quyền được Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình và đề xuất hướng giải quyết
Pháp luật Việt Nam đã tạo một hành lang pháp lý, tạo “rào chắn” an toàn, để bảo vệ quyền hưởng Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vẫn còn một số khó khăn nhất định, làm hạn chế quyền hưởng Bảo hiểm xã hội của lao động là người giúp việc gia đình vì nhiều nguyên nhân khác nhau:
Thứ nhất, giúp việc gia đình là công việc liên quan đến nhiều yếu tố cá nhân, là một loại hình công việc đặc thù. Việc tìm kiếm lao động là người giúp việc gia đình thường thông qua quan hệ cá nhân, quen biết. Nhiều trường hợp lại là những người có quan hệ họ hàng, vì vậy một số trường hợp ngoài quan hệ lao động, còn tồn tại các quan hệ mang tính cá nhân mà ở đó, cả người sử dụng lao động và lao động là người giúp việc gia đình đều không mấy quan tâm về các vấn đề pháp lý điều chỉnh việc sử dụng lao động trong mối quan hệ này. Trong thực tế, để rút ngắn thời gian và cắt giảm thủ tục, người sử dụng lao động thông thường không ký hợp đồng lao động với lao động là người giúp việc gia đình. Các bên chỉ thỏa thuận miệng về công việc phải làm và tiền lương lao động là người giúp việc gia đình sẽ hưởng. Trong khi đó, các điều khoản liên quan đế quyền lợi lao động là người giúp việc gia đình trong đó có điều khoản Bảo hiểm xã hội thường không được các bên quan tâm. Đây là “thói quen” đã tồn tại từ lâu khi công việc giúp việc ra đời, chính vì thế khi có tranh chấp về các vấn đề liên quan, lao động là người giúp việc gia đình thường chịu phần thua thiệt vì họ không có cơ sở để đòi quyền lợi cho mình. Cho nên về các quyền lợi nói chung hay quyền được Bảo hiểm xã hội nói riêng họ cũng không có cơ sở pháp lý để bảo vệ khi có tranh chấp phát sinh.
Thứ hai, các bên không được trang bị các kiến thức pháp luật và kỹ năng cần thiết. Người sử dụng lao động chủ yếu kiếm tìm người giúp việc làm được việc, hiền lành và bảo đảm độ tin cậy. Trong khi người giúp việc thường chỉ quan tâm đến tiền lương, môi trường làm việc thân thiện, không bị ngược đãi, cưỡng bức hay quấy rối tình dục. Nói tóm lại, việc tìm hiểu các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi chính mình vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân của họ. Chính vì vậy, giữa các bên chỉ cần thống nhất thỏa thuận một số tiền hợp lý mà không quan tâm đã phù hợp với quy định pháp luật hay chưa.
Thứ ba, lao động là người giúp việc gia đình thường có trình độ hạn chế nên thiếu kiến thức để tự bảo vệ mình. Đồng thời, do đa phần là lao động chưa qua đào tạo, thiếu những kỹ năng nghề cơ bản, thậm chí có trường hợp là người không biết chữ, hạn chế về nhận thức, nên việc tuyên truyền, phổ biến về quyền, lợi ích về Bảo hiểm xã hội không thể làm nhanh trong thời gian ngắn.
Thứ tư, Bộ luật Lao động quy định: “Người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo Bảo hiểm xã hội ” (Khoản 2 Điều 181); Điều 19, Nghị định số 27/2014 ngày 07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình quy định: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm”.

Thứ năm, một số lao động là người giúp việc gia đình làm việc theo giờ, họ chỉ làm việc tại gia đình người sử dụng lao động một số giờ nhất định và được trả lương ngay sau khi hoàn thành công việc. Như vậy, số tiền lương mà họ thỏa thuận với người sử dụng lao động rất khó để xác định phần tiền công trả cho công việc và phần tiền họ phải được trả thêm để đóng Bảo hiểm xã hội.

Giúp việc gai đình một nghề rất cần thiết trong xã hội

Một số đề xuất hướng giải quyết
Pháp luật cần quy định thống nhất chế độ Bảo hiểm xã hội cho đối tượng lao động là người giúp việc gia đình trong Luật Bảo hiểm xã hội  sửa đổi năm 2014 và Nghị định số 27/CP. Pháp luật xác định rõ loại hình Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế cụ thể mà người giúp việc gia đình được hưởng. Quy định này tạo cơ sở cho người giúp việc gia đình được bảo đảm sức khỏe, có nhiều cơ hội cống hiến cho sự phát triển chung của xã hội.
Cần tuyên truyền kiến thức pháp luật về Bảo hiểm xã hội cho lao động là người giúp việc gia đình thông qua các hình thức cụ thể. Trong quá trình tập huấn kỹ năng nghề cho lao động là người giúp việc gia đình, cần bổ sung, lồng ghép chương trình tư vấn pháp luật để nâng cao ý thức cho lao động là người giúp việc gia đình trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Tăng mức chế tài cho người sử dụng lao động khi vi phạm về các trường hợp đóng Bảo hiểm xã hội cho người lao động nói chung và lao động là người giúp việc gia đình nói riêng.
Giúp việc gia đình là một hoạt động, một dịch vụ đã và đang phát triển rất nhanh trong xã hội hiện đại. Để bảo đảm quyền hưởng Bảo hiểm xã hội  của lao động là người giúp việc gia đình, ngoài việc hoàn thiện pháp luật để tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, Nhà nước cũng cần phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau nhằm nâng cao tính hiệu quả khi thực thi các quy định của pháp luật vào đời sống.